Hàn Quốc: Thái cực đồ và Hoa hồng Sharon

Cả Thái cực đồ và bông hoa hồng Sharon đều tượng trưng cho một niềm hy vọng về sự tuần hoàn, vĩnh cửu, không bao giờ dứt của đất nước và dân tộc Hàn Quốc – Triều Tiên.

physical-location-map-of-korea-south.jpg

Giha2000_27408868
Đàn Quân

Đại Hàn Dân Quốc, gọi tắt là Hàn Quốc, là quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên. Lịch sử Triều Tiên bắt đầu khi nước Cổ Triều Tiên thành lập năm 2333 TCN bởi vị vua thần thoại Đàn Quân. Tương truyền, con của Thiên Đế trên thiên đình giáng phàm, dùng phép biến một con gấu cái thành một người đàn bà xinh đẹp, thụ thai cho nó. Nó đẻ ra một đứa bé, chính là vua Đàn Quân.

Từ thế kỷ thứ 1, 3 nước Cao Câu Ly (Goguryeo), Bách Tế (Baekje) và Tân La (Silla) phát triển và tạo thành thế Tam quốc từ năm 57 TCN đến năm 676 khi Tân La thống nhất 3 vương quốc. Năm 698, Dae Jo-yeong (Đại Tộ Vinh) 1 vị tướng cũ của Cao Lâu Ly lập nước Bột Hải (Balhae) dẫn tới giai đoạn Nam-Bắc quốc đến năm 926. Cuối thế kỷ thứ 9, Tân La lại bị chia thành 3 vương quốc là Tân La, Hậu Bách Tế và Thái Phong (Taebong hay còn gọi là Hậu Cao Lâu Ly) mở ra thời Hậu Tam Quốc, đến năm 936, Vương Kiến (Wang Geon) thống nhất toàn bộ bán đảo dưới một chính quyền duy nhất.

220px-Goryo_Taejo_Wangkun_2.jpg
Vương Kiến (Wang Geon) – Cao Ly Thái Tổ

Nước Cao Ly được thành lập năm 936, đã thay thế Tân La với tư cách triều đại cai trị Triều Tiên. ‘Cao Ly’ (Goryeo) cũng là nguồn gốc tên tiếng Anh ‘Korea’ của Triều Tiên. Triều đại này tồn tại tới tận năm 1392 và đạt được nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ.

Năm 1392, một vị tướng Triều Tiên là Lee Seong-gye (Lý Thành Quế) được cử tới Trung Quốc trong chiến dịch chống lại nhà Minh, nhưng thay vì thực hiện sứ mệnh, ông đã quay lại để lật đổ vị vua Cao Ly và thành lập một triều đại mới. Ông đặt tên cho nó là Triều đại Triều Tiên (Joseon) để vinh danh Cổ Triều Tiên trước đó (chữ ‘Cổ’ về sau được thêm vào để phân biệt). Nhà Triều Tiên có nhiều tiến bộ trong khoa học và văn hoá: đáng chú ý nhất là bảng chữ cái Hangul do vua Sejong Đại đế (Thế Tông) phát minh năm 1443. Triều đại Triều Tiên được cho là triều đại thực sự nắm quyền lâu nhất tại Đông Á trong thiên niên kỷ qua.

Sejong_(Civ_5).jpg
Vua Sejong Đại đế
o_1bigc33ll1tvg1skr16htctol8u.jpg
Đô đốc Yi Sun-sin (Lý Thuấn Thuần)

Sau gần 2 thế kỷ hòa bình,  triều đại Joseon đã phải đối mặt với những cuộc xâm lược nước ngoài, bắt đầu từ năm 1592 – 1637. Cuộc xung đột này khiến Đô đốc Yi Sun-sin (Lý Thuấn Thuần) trở nên nổi bật, và cũng là lần đầu các tàu rùa và hwacha được đưa vào sử dụng trong quân đội Triều tiên.

Trong thế kỷ 19, Triều Tiên tìm cách kiểm soát các ảnh hưởng từ bên ngoài thông qua việc đóng cửa các biên giới với tất cả các nước, ngoại trừ Trung Quốc. Tới năm 1876, một đất nước Nhật Bản hiện đại nhanh chóng đã buộc Triều Tiên phải mở cửa các cảng biển. Năm 1895, người Nhật ám sát Hoàng hậu Myeongseong (Minh Thành), người đang tìm cách lôi kéo sự giúp đỡ từ phía Nga, và người Nga đã buộc phải rút lui khỏi Triều Tiên.

1200px-Korea-Portrait_of_Emperor_Gojong-01.jpg
Vua Gojong

Năm 1897, Joseon được đổi tên thành Daehan Jeguk (Đại Hàn đế quốc), và Vua Gojong (Cao Tông) trở thành Hoàng đế Gojong. Năm 1910 Nhật Bản hoàn toàn thôn tính Triều Tiên bằng Hiệp ước sáp nhập Nhật Bản – Triều Tiên cho tới khi họ đầu hàng trước quân Đồng Minh năm 1945, với chủ quyền trên danh nghĩa đã được chuyển từ Triều đại Joseon sang Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Triều Tiên.

Sau khi được giải phóng và bị chia cắt vào cuối Thế chiến thứ II, quốc gia này trở thành 2 nước là Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc. Hàn Quốc được thành lập năm 1948 như một nền dân chủ. Chiến tranh Triều Tiên kết thúc bằng hiệp định ngừng bắn. Kinh tế Hàn Quốc phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn.

Quốc huy của Hàn Quốc bao gồm biểu tượng taeguk tượng trưng cho quốc kỳ của quốc gia, thể hiện sự hòa bình, hòa hợp và một bông hoa có 5 cánh, được gọi là hoa hồng Sharon hoặc hoa Mugung, đây là quốc hoa của Đại Hàn dân quốc và cũng là biểu tượng quốc gia của đất nước này. Ý nghĩa tượng trưng của hoa bắt nguồn từ từ ‘mugung’ trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là ‘vĩnh cửu’ hay ‘sự phong phú vô tận’. Loài hoa này được yêu thích đến nỗi trong cung điện hoàng gia Hàn Quốc có hẳn một phòng gọi là phòng Hoa hồng Sharon.

Emblem_of_South_Korea
Quốc kỳ Hàn Quốc

1. Biểu tượng taeguk

ThaiCucDo.jpg
Thái cực đồ

Taeguk là cách gọi biểu tượng thái cực đồ tại Hàn Quốc. Thái cực đồ là đồ hình mô tả thuyết Âm Dương trong văn hóa Phương Đông, nó nằm gọn trong một vòng tròn, gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau, tượng trưng cho Âm (màu đen) và Dương (màu đỏ). Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm trong đó. Màu sắc của Thái Cực đồ có thể thay đổi, cũng như độ xoắn vào nhau của hai hình đối xứng.

Thái Cực đồ thể hiện ý nghĩa của triết học Phương Đông, cụ thể là thuyết Âm Dương rất rõ ràng:

  • Trong mỗi một tổng thể (hình tròn) luôn tồn tại 2 mặt đối lập Âm và Dương, 2 mặt đó tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện. Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai 2 đó.
  • Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, cũng như trong phần màu đỏ có chấm màu đen, và ngược lại.
  • Âm thịnh, Dương suy và ngược lại. Khi phần màu đen lớn dần thì phần màu đỏ nhỏ dần và ngược lại.
  • Cực thịnh thì suy, thể hiện ở mỗi phần khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần

Nguồn gốc của biểu tượng taegeuk tại bán đảo Triều Tiên có thể truy về tận thế kỷ thứ 7, nhưng những cuộc khai quật gần đây chứng minh rằng biểu tượng này có niên đại còn lâu đời hơn nữa. Những biểu tượng taeguk đã được tìm thấy tại những phế tích của các nền văn hóa cổ tại Hàn Quốc, cụ thể là thời Tam quốc Triều Tiên. Biểu tượng taeguk có tuổi đời xưa nhất được tìm thấy tại Hàn Quốc là một một cổ vật 1400 tuổi được tìm thấy tại mộ vua Bogam-ri của vương quốc Baekje tại thành phố Naju.

150428_Naju_Korea_10.jpg
Một gò chôn cất tại Bogam-ri, Naju

Taehuk với màu xanh là âm, tượng trưng cho hy vọng, và màu đỏ là dương, chỉ sự tôn quý. Kết lại, vòng tròn âm dương này tượng trưng cho sự sinh thành phát triển tương hỗ lẫn nhau, sự tuần hoàn vĩnh cửu không bao giờ dứt. Đây cũng là hình trang trí có tính truyền thống dân tộc Hàn đã sử dụng từ thời cổ đại, vô cùng quan trọng trong tôn giáo và lịch sử tại Hàn Quốc. Trong tôn giáo nó tượng trưng cho những giá trị Đạo giáo, triết học Hàn Quốc. Trong chính trị nó tượng trưng hy vọng hòa hợp giữa âm và dương và cho phép người dân sống hòa thuận cùng với triều đình, chính phủ.

706px-Flag_of_the_king_of_Joseon.jpg
Lá cờ Hàn Quốc dưới triều đại  Joseon, năm 1800

2. Nguồn gốc hoa hồng Sharon

img_201507071053264283
Cuốn ‘Sơn Hải Kinh’

Hoa hồng Sharon  có nguồn gốc từ vùng Tiểu Á nhưng lại được phân bố rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc. Hoa Mugung đã xuất hiện rất nhiều ở Hàn Quốc từ thời cổ đại, vì vậy người ta gọi Hàn Quốc là ‘Cẩn Hoa Chi Hương’ hay ‘Cẩn Hoa Hương’ nghĩa là ‘đất nước của Hoa Mugung’. Ghi chép lâu đời nhất về hoa Mugung là cuốn ‘Sơn Hải Kinh’, quyển bách khoa toàn thư cổ đại về địa lý Trung Quốc được cho là biên soạn vào trước thế kỷ thứ 2. Sách có ghi rằng ‘Ở nước quân tử có quân hoa thảo, sáng nở tối tàn’. ‘Nước quân tử’ ở đây là chính là Hàn Quốc, còn ‘quân hoa thảo’ là hoa Mugung. Ghi chép này về sau còn liên tục xuất hiện trong các tài liệu cổ của cả 2 nước Trung Quốc và Hàn Quốc.

3. Đặc điểm hoa

hoa.jpg
Cây hoa hồng Sharon

Hoa hồng Sharon thuộc nhóm hoa dâm bụt, là loại cây rụng lá vào mùa đông. Thân cây cao khoảng 2 đến 3m, toàn bộ hầu như không có lông, thẳng đứng, vỏ cây có màu xám tro được cấu tạo bằng chất sợi bền và chắc. Lá cây dài khoảng 4-10cm, mọc đan vào nhau, hình dạng giống như quả trứng và phân bố chủ yếu trên 3 nhánh cây mọc sâu.

Có đến hơn 100 loài hồng Sharon trên bán đảo Triều Tiên, gồm các loại hồng đơn, hồng nửa kép và hồng kép. Dựa vào màu sắc hoa, người ta chia hồng Sharon ra làm 3 nhóm, Dansim (một nhị đỏ), Baedal (hoa trắng), và Asadal (chấm hồng trên rìa mỗi cánh hoa). Nhóm hoa được chọn làm quốc hoa là hồng đơn Dansim.

무궁화_2
Nhóm Baedal
tumblr_m6n1pmrgWJ1rwer13o2_500
Nhóm Asadal

Hoa nở từ tháng 7 đến tháng 9, cánh hoa có dạng nếp nhăn dài 6-10 cm, có cuống ngắn.

RoseOfSharonLilac01
Nhóm Dansim

Thông thường cây nhỏ một ngày nở khoảng 20 bông, cây lớn 50 bông, thời gian hoa nở khoảng 100 ngày trong một năm.
Vì vậy, nếu tính ra trong một năm, hoa nở khoảng từ 2000 đến 5000 bông. Hoa nở vào buổi sáng sớm, bắt đầu khép cánh vào buổi chiều và rụng lúc hoàng hôn. Chu trình này được lặp đi lặp lại hàng ngày, việc nở và rụng liên tiếp hàng ngày được xem là đặc tính rất độc đáo của hoa Mugung.

4. Ý nghĩa của hoa
Hoa Mugung mang vẻ đẹp giản dị, là biểu tượng cho tính cách của người Hàn Quốc. So với các loại hoa khác, hoa Mugung có sức chịu đựng rất dẻo dai, tượng trưng cho sinh lực mạnh mẽ, sự phát triển không ngừng sự thịnh vượng của quốc gia. Bản thân từ ‘Mugung’ trong tiếng Hàn đã có nghĩa là bất tử.

cup-of-hibiscus-tea-surrounded-by-dried-petals
Trà hoa hồng Sharon

Người dân Hàn Quốc rất yêu mến và chăm sóc cho loài hoa này bởi nó biểu tượng cho những trang sử vinh quang của đất nước cũng như những thử thách và đau khổ mà người dân đã phải trải qua. Cho dù bông này có rụng xuống thì bông khác vẫn sẽ lại nở tiếp, bởi vậy nó còn được xem là biểu tượng của tinh thần bất khuất. Ngoài ra, hoa Mugung còn có nhiều công dụng khác: nụ hoa được dùng làm rau, cánh hoa và quả được dùng làm thuốc hay pha trà. Với những công dụng và sự hữu ích lớn như thế, hoa Mugung được xem là loài hoa được sinh ra ‘vì con người và giúp ích cho con người’.

5. Trở thành biểu tượng quốc gia
Cũng giống như quốc kỳ hay quốc ca, việc hoa Mugung được chọn làm quốc hoa không phải do quy định của của chính phủ Hàn Quốc. Từ thời cổ đại, hoa Mugung đã được xem là biểu tượng của tinh thần dân tộc Hàn. Tình yêu của người Hàn Quốc dành cho loài hoa này được thể hiện rõ nét khi những ca từ ‘Hoa Mugung, nở ngàn dặm trên những ngọn núi và bên những dòng sông tươi đẹp’ mở đầu một đoạn điệp khúc trong quốc ca của Đại Hàn Dân Quốc. Do hoa đã trở thành một phần rất quan trọng của đất nước trong nhiều thế kỷ, Hàn Quốc đã lựa chọn loài hoa này làm quốc hoa sau khi được giải phóng khỏi ách thống trị của phát xít Nhật. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Hàn Quốc ngày nay đều lấy hoa Mugung làm biểu tượng và đế cắm quốc kỳ cũng được quy định làm theo hình dạng của nụ hoa Mugung.

mi_img1int_com_emb_03

Nguồn: https://todayflowers.com/vi/h%C3%A0n-qu%E1%BB%91c-hoa-giao-h%C3%A0ng-t%E1%BA%ADn-n%C6%A1i

http://world.kbs.co.kr/vietnamese/korea/korea_aboutsymbol.htm

https://en.wikipedia.org/wiki/Emblem_of_South_Korea

http://thongtinhanquoc.com/ma-van-hoa-la-co-thai-cuc/

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_c%E1%BB%B1c_%C4%91%E1%BB%93

Advertisements

2 thoughts on “Hàn Quốc: Thái cực đồ và Hoa hồng Sharon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s