Syria: Chim cắt của tộc Quraysh

Con chim cắt Peregrine trên quốc huy của Syria đại diện cho 2 điều quan trọng của người Ả Rập: một là môn falconry, di sản văn hóa truyền thống của người Ả Rập và hai là nguồn gốc của nhà tiên tri Muhammad có từ bộ tộc Quraysh.

physical-location-map-of-syria.jpg
(maphill.com)
PomeyGreat.png
Pompey Đại đế (assassinscreed.wikia.com)

Syria nằm ở Tây Á, trước kia gồm toàn bộ vùng Levant, trong khi nhà nước hiện đại bao gồm địa điểm của nhiều vương quốc và đế chế cổ, gồm cả nền văn minh Ebla từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN. Trong thiên niên kỷ thứ 2 TCN, Syria bị chiếm đóng liên tục bởi những dân tộc khác như người Hittites, Canaan, Phoenicia, Ai Cập, Sumer, Assyria và Babylon.

Cuối cùng, người Ba Tư chiếm Syria như một phần quyền bá chủ Tây Nam Á của họ, sự thống trị này được trao lại cho người Macedonia cổ đại sau những cuộc chinh phục của Alexander Đại đế. Pompey Đại đế chiếm Antioch năm 64 TCN, biến Syria trở thành một tỉnh của La Mã. Vì thế quyền kiểm soát vùng này được trao cho người La Mã và sau đó là người Byzantine.

jack_farrell_cards_30_by_jangelles.jpg
Baybars, lãnh đạo của người Mamluk (jangelles.deviantart.com)

Tới năm 640, Syria bị quân đội Rashid chinh phục, dẫn tới việc vùng này trở thành một phần của đế chế Hồi giáo. Triều đại Umayyad sau đó bị triều đại Abbasid lật đổ năm 750. Năm 1260, người Mông Cổ tới nơi, phá hủy các thành phố Aleppo và Damascus. Sau đó, người Mamluk với sự lãnh đạo của Baybars, tới nơi với một đội quân từ Ai Cập, và đã đánh bại quân Mông Cổ. Năm 1400, Timur Lenk (Thiếp Mộc Nhi) xâm lược Syria, cướp phá Aleppo và chiếm Damascus sau khi đánh bại quân đội Mamluk. Dân số Thiên chúa giáo bản xứ tại Syria bắt đầu phải chịu sự đàn áp lớn hơn.

selim-i.jpg
Sultan Selim I (pamujiku.wordpress.com)

Tới cuối thế kỷ 15, sự khám phá ra con đường biển từ châu Âu tới Viễn Đông đã chấm dứt nhu cầu về một con đường thương mại trên đất liền qua Syria. Bị người Mông Cổ Timur phá hủy, Syria (và cả Ai Cập) dễ dàng bị sultan Selim I chinh phục và hấp thu vào trong Đế chế Ottoman. Từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 20, Syria tự thấy mình hầu như tách biệt và bị lãng quên bởi các sự kiện thế giới. Đế chế Ottoman thất bại trong Thế chiến I và bị phân rã, Syria thuộc về Pháp từ năm 1920 đến khi giành độc lập năm 1944.

Bashar_al-Assad_in_Russia_(2015-10-21)_08.jpg
Tổng thống Bashar al-Assad (en.wikipedia.org)

Nước này đã nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Baath từ năm 1963. Tổng thống hiện thời của Syria là Bashar al-Assad, người đã giành thắng lợi trong một cuộc trưng cầu dân ý. Syria đã đóng một vai trò quan trọng trong khu vực, đặc biệt nhờ vị trí trung tâm của nó trong cuộc xung đột Ả Rập – Israel. Nội chiến Syria được kích thích từ các cuộc cách mạng Mùa xuân Ả Rập vào năm 2011. Những quân nhân đào ngũ tuyên bố thành lập Quân đội Syria Tự do và bắt đầu lập các đơn vị chiến đấu. Thế lực phản đối chủ yếu là người Hồi giáo Sunni, trong khi các nhân vật đứng đầu chính phủ nhìn chung gắn bó với giáo phái Alawi.

Con chim cắt của người Quraish là một biểu tượng được tìm thấy trên quốc kỳ và quốc huy của Syria cũng như rất nhiều các quốc gia Ả Rập khác. Người Ả Rập trên bán đảo Ả Rập, đặc biệt là những người từ bờ biển vịnh Ba Tư, vốn là những chuyên gia nuôi và huấn luyện chim săn điêu luyện. Chim cắt và diều hâu được xem là biểu tượng của địa vị và loài vật yêu thích của người Ả Rập. Ngoài ra các truyền thống và tài liệu lịch sử còn ghi nhận về bộ lạc Quraish và tiên tri Muhammad của Hồi giáo đã sử dụng chim cắt như biểu tượng của mình. Kể từ đó, rất nhiều hình tượng của chim cắt Quraish đã được sử dụng trên quốc kỳ, huy hiệu, con dấu và biểu tượng của nhiều quốc gia Ả Rập cho đến ngày nay. 

443px-Coat_of_arms_of_Syria.jpg
Quốc huy Syria (en.wikipedia.org)
Emblem_of_the_United_Arab_Emirates
Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) (en.wikipedia.org)
Coat_of_arms_of_Kuwait
Quốc huy Kuwait (en.wikipedia.org)
Coat_of_arms_of_Libya_(1977-2011)
Quốc huy Lybia từ 1977-2011 (en.wikipedia.org)

1. Hình mẫu trong tự nhiên

peregrine-falcon-diving.jpg
Chim cắt liệng xuống (bpsfuelforthought.wordpress.com)

Hình mẫu của con chim cắt của người Quraish trong tự nhiên là loài chim cắt Peregrine. Chim cắt Peregrine có chiều dài cơ thể khoảng 35-60cm, có dải lông ở lưng màu xanh xám, phần lông đuôi điểm trắng và có cái đầu màu đen trong khi mỏ và chân màu vàng. Chim đực và chim cái đều có bộ lông giống nhau nhưng con cái nặng và to hơn. Phần mỏ trên của chúng quặp nhọn lại, giúp chúng giết chết con mồi bằng cách mổ mạnh vào phần đốt sống ở cổ.

Loài chim này có sải cánh rộng từ 75-120cm là kẻ nhanh nhất trong giới động vật, với những cú liệng xuống dưới đạt tốc độ hơn 322 km/h. Áp suất không khí từ một cú lao mình như vậy có thể phá hủy phổi của chim, nhưng các ống xương nhỏ trên mũi của chúng được thiết kế để đẩy không khí ra ngoài, giảm sự thay đổi áp suất không khí, cho phép chúng thở dễ dàng hơn khi lao mình. Để bảo vệ đôi mắt, chim Peregrine sử dụng một lớp màng giống như mí mắt thứ 3 để lau nước mắt và chống bụi trong khi vẫn duy trì được thị lực.

peregrine-falcon-wings-extended.adapt.945.1.jpg
(kids.nationalgeographic.com)

Phạm vi sinh sản của loài chim cắt này bao gồm các vùng đất từ lãnh nguyên Bắc Cực tới nhiệt đới. Nó có thể được tìm thấy gần như ở khắp mọi nơi trên Trái đất, ngoại trừ những khu vực cực kỳ gần các địa cực, những ngọn núi rất cao, và hầu hết các khu rừng mưa nhiệt đới. Điều này làm cho nó trở thành loài chim ăn thịt phổ biến rộng khắp nhất trên Thế giới. Danh pháp khoa học của loài này có nghĩa là ‘chim cắt lang thang’, đề cập đến tập tính di trú của các quần thể chim phương Bắc.

peregrine-falcon_dawnkey-istock.jpg
(defenders.org)

Trong khi chế độ ăn uống của loài này bao gồm gần như chủ yếu là các loài chim có kích thước trung bình thì nó đôi khi cũng săn bắt cả các loài động vật có vú hay bò sát nhỏ, hoặc thậm chí cả côn trùng. Cặp chim trống mái sống với nhau trọn đời và làm tổ trong hốc, trên mép vách đá hoặc trên các cấu trúc trên cao do con người tạo ra. Chim cắt Peregrine là một loài chim được ngưỡng mộ trong môn nuôi chim săn (falconry) do khả năng săn mồi mạnh mẽ, linh hoạt, có khả năng được huấn luyện cao, sinh sản tốt trong điều kiện nuôi nhốt, và luôn hiệu quả chống lại những loài chim khác từ nhỏ đến lớn, vì thế từ thời xa xưa chúng đã được người Ả Rập nuôi dưỡng và huấn luyện.

2. Chim cắt Peregrine trong Falconry

Falconry là một môn thể thao và thú vui, bao gồm việc săn bắt, nuôi, sưu tầm các loài chim săn mồi về thuần phục và huấn luyện chúng đi săn trong môi trường tự nhiên, có từ những người Assyria ở vùng Lưỡng Hà cổ đại vào khoảng năm 700 TCN, là một phần quan trọng trong di sản và văn hóa của người Ả Rập. Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất hàng năm chi hơn 27 triệu dollar trong việc bảo vệ và bảo tồn các loài chim săn mồi hoang dã, và đã thành lập các bệnh viện hiện đại dành riêng cho chim tại Abu Dhabi và Dubai. Vào năm 2001, UNESCO đã công nhận falconry là một di sản văn hóa phi vật thể của 11 quốc gia, trong đó có Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), Quatar, Ả Rập Saudi và Syria.

4_109_hospital-slide1.jpg
Bệnh viện dành cho chim săn mồi tại Abu Dhabi (desertrosetourism.com)
27362981.jpg
Chim cắt chao lượn trên không (birdsna.org)

Chim cắt Peregrine là một loài chim rất được ngưỡng mộ trong giới falconry, được xếp vào hạng đầu tiên, hạng chim dành cho hoàng đế và đã được sử dụng trong falconry qua hơn 3000 năm, bắt đầu từ những người du mục ở vùng Trung Á. Lợi thế của chúng trong falconry không chỉ bởi chúng có thể chất khỏe mạnh, tính háo hức săn mồi mà còn rất dễ huấn luyện. Một lợi thế nữa của chúng là tập tính bay tự nhiên: chúng bay lượn vòng bên trên người chủ chờ đến khi chim mồi được thả ra, và rồi thực hiện một cú bổ nhào tốc độ cao rất hiệu quả và kích thích vào trực diện con mồi. Tốc độ và năng lượng của cú bổ cho phép chim Peregrine bắt kịp những loài chim bay nhanh, và sau đó nó nắm chặt bộ vuốt lại trông như một nắm đấm và tung ra một cú knock out đánh gục những con mồi có thể còn lớn hơn chính nó.

3157cfc3484865957cfdb99e4782a463
Chim Peregrine bắt mồi (pinterest.com)
Falconry_sport_of_kings_(1920)_Peregrine_falcon_striking_red_grouse.png
Chim cắt Peregrine tấn công một con gà gô đỏ (tranh của Louis Agassiz Fuertes, 1920)

Sự linh hoạt và nhanh nhẹn giúp chim cắt Peregrine bắt được những loài chim nhỏ hơn như chim bồ câu, chim sẻ, vịt trời, trong khi sức mạnh và phong cách tấn công giúp chúng hạ gục những con chim mồi lớn hơn như chim trĩ và gà gô, kết hợp với phạm vi kích thước rộng của nhiều phân loài Peregrine, nghĩa là bất cứ loài chim mồi nào cũng sẽ có một phân loài chim Peregrine phù hợp.

Chim cắt Peregrine thỉnh thoảng còn được người ta sử dụng để đuổi những con chim quấy rối tại sân bay để giảm nguy cơ tai nạn cho máy bay, cải thiện an toàn giao thông đường không. Chúng cũng được sử dụng để bắt những con bồ câu đưa thư trong Thế chiến II.

3. Biểu tượng của bộ tộc Quraysh

ishmael_large.jpg
Minh họa Ishmael (geni.com)

Các truyền thống và tài liệu lịch sử đã ghi nhận về bộ lạc Quraysh và nhà tiên tri Muhammad đã sử dụng chim cắt như biểu tượng của mình. Bộ tộc Quraysh là một bộ tộc thương gia Ả Rập mạnh mẽ kiểm soát thánh địa Mecca và ngôi đền Kaaba và theo truyền thống Hồi giáo, là hậu duệ của Ishmael (tổ tiên của người Ả Rập), con trai đầu lòng của tổ phụ Abraham.

Người sáng lập tộc Quraysh là Fihr ibn Malik thuộc bộ tộc Kinana. Theo các nguồn truyền thống, Fihr ibn Malik đã lãnh đạo các chiến binh của Kinana và Khuzayma bảo vệ đền thờ Kaaba, vào thời bấy giờ vẫn còn là một ngôi đền ngoại giáo lớn ở Mecca, chống lại những bộ lạc từ Yemen, nhưng để ngôi đền lọt vào tay người Yemen. Tộc Quraysh có cái tên như ngày nay là từ thời của Qusayy ibn Kilab, hậu duệ đời thứ 6 của Fihr ibn Malik , người đã tập hợp các thân nhân của mình giành lại quyền kiểm soát đền Kaaba.

FB-30-Facts-About-Islam-The-Kaaba-27.jpg
Đền thờ Kaaba là trung tâm thánh địa thiêng liêng nhất của đạo Hồi (30factsaboutislam.com)

Tất cả các nguồn Hồi giáo thời Trung Cổ đều nhất trí rằng Qusayy đã thống nhất những hậu duệ của Fihr ibn Malik và đưa tộc Quraysh trở thành thế lực quý tộc thống trị tại Mecca. Lúc này Mecca vẫn chưa phải là một trung tâm thương mại, mà nguồn thu chủ yếu đến từ những người hành hương đến đền Kaaba. Cho đến cuối thế kỷ thứ 6, thương mại của Mecca đã phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, và những người Quraysh đã từ những người thương gia đơn thuần trở thành những chuyên gia tài chính thực thụ, họ độc quyền thương mại giữa ngã tư thương mại của Ấn Độ Dương, Đông Phi và Địa Trung Hải, trở thành những người rất giỏi quản lý và tổ chức ở Ả Rập.

0119muhammad0.jpg
Nhà tiên tri Muhammad (theexmuslim.com)

Tộc Quraysh phân nhánh thành nhiều chi bộ lạc, trong đó trong đó bộ lạc Hashim giữ quyền thừa kế chịu trách nhiệm về mặt tế tự và quản lý đền thờ. Nhà tiên tri Muhammad là một thành viên của gia tộc này, là cháu cố của tộc trưởng Hashim. Muhammad được những tín đồ Hồi giáo tin là vị ngôn sứ cuối cùng mà Thiên Chúa (Allah) gửi xuống để dẫn dắt nhân loại.

Thấy giáo điều Hồi giáo độc thần đi ngược lại với tín ngưỡng đa thần của cha ông họ, và lợi tức kinh tế của thành Mecca do các bộ lạc đến dâng hương cúng các tượng thần, nên một số người của dòng Quraysh bảo thủ bắt đầu có phản ứng mạnh để ngăn chống sự phát triển của đạo Hồi. Họ đã tấn công các thành viên của cộng đồng Hồi giáo sơ khai, và âm mưu giết hại Muhammad. Theo chế độ thị tộc cổ Ả Rập, khi một người bị giết thì cả bộ tộc có bổn phận phải báo thù, nên trong thời gian đầu nhóm đối lập không dám giết ông, và không dám giết những tín đồ thuộc dòng Quraysh ở Mecca. Họ thương lượng với bác của ông là ông Abu Talib và tìm nhiều biện pháp mềm mỏng để ông chấm dứt truyền đạo. Nhưng ông Abu Talib nhất quyết bảo vệ cháu trai của mình tiếp tục sứ mạng, nên các giải pháp thương lượng không đạt được kết quả mong muốn của phe bảo thủ.

Siyer-i_Nebi_-_Imam_Ali_und_Hamza_bei_dem_vorgezogenen_Einzelkampf_in_Badr_gegen_die_Götzendiener.jpg
Trận Badr (wikipedia.org)

Năm 622, để thoát khỏi sự bức hại, Muhammad và những tín đồ của mình, bao gồm cả người cha vợ Abu Bakr, thoát ly đến Medina. Năm 623, Muhammad đích thân tổ chức một cuộc tập kích một đoàn buôn từ Palestine và đánh bại tộc Quraysh hoàn toàn lần đầu tiên trong trận Badr vào năm 624. Quân Hồi giáo sau đó một lần nữa chiến thắng phe bảo thủ ở trận núi Uhud năm 626. Quân Quraysh sau đó dự định đánh chiếm Medina vào năm 627, nhưng lại bị đánh bại trong trận Chiến Hào. Hòa ước Hudaybiya sau đó được ký kết giữa Muhammad và người Quraysh vào năm 628. Đến năm 630 thì có bộ lạc Banu Bakr thuộc phe Mecca đánh nhau với bộ lạc Khuza’ah của phe Medina. Phe bảo thủ Mecca giúp bộ lạc Banu Bakr, Muhammad coi đó là hành động xé bỏ hòa ước Hudaibiya, nên chuẩn bị tấn công Mecca. Tháng 1 năm 630, Muhammad đem 10,000 quân đến chiếm lấy Mecca, dễ dàng tiến vào Mecca một cách vinh quang và phủ dụ người dân nơi đây cải theo Hồi giáo. Ông cho đập bỏ các tượng thần, và dẹp đi tín ngưỡng đa thần giáo.

Muhammad_destroying_idols_-_LHistoire_Merveilleuse_en_Vers_de_Mahomet_BNF.jpg
Muhammad đập vỡ các tượng thần trong điện Kabaa (virily.com)
Calligraphic_representation_of_Muhammad's_name
Ký hiệu thư pháp của tên Muhammad

Muhammad cố gắng củng cố sự đoàn kết trong cộng đồng Hồi giáo bằng cách cho phép những người Quraysh tham gia và ảnh hưởng trong nhà nước Hồi giáo sơ khai. Vì thế, mặc dù đã có sự chống đối lâu dài với Muhammad, người Quraysh đã trở thành những đối tác về chính trị, kinh tế và một phần quan trọng trong giới tinh hoa Hồi giáo. Nhiều người trong tộc Quraysh đã được đưa vào những vị trí chủ chốt trong chính quyền và tham gia thiết lập các chính sách, khả năng tổ chức và quản lý của họ đã được sử dụng phục vụ cho Hồi giáo. Truyền thống hadith của Hồi giáo chỉ định Hồi vương caliph phải là từ tộc Quraysh được chấp nhận rộng rãi bởi cộng đồng Hồi giáo. Như vậy cuối cùng thì sự kiểm soát nhà nước Hồi giáo cơ bản đã chuyển sang cuộc đấu tranh giữa các phe phái khác nhau của tộc Quraysh như trong trường hợp của các nhà nước Hồi giáo Rashidun, Umayyad và Abbasid.

Tại địa điểm khảo cổ Madain Saleh nằm tại khu vực thành phố Al-`Ula, tỉnh Al-Madinah, Hejaz, Ả Rập Saudi, người ta đã tìm thấy một biểu tượng cổ của một con chim cắt hoặc chim ưng, có từ trước thời La Mã cổ đại, và đã tiếp tục được sử dụng bởi những người đứng đầu tộc Quraysh từ thời kỳ tiền Hồi giáo cho đến tận ngày nay.

nabataeaneagle.jpg
Biểu tượng chim cắt tìm thấy ở Madain Saleh (sayyidamiruddin.com)

Nguồn:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Syria

https://en.wikipedia.org/wiki/Hawk_of_Quraish

https://en.wikipedia.org/wiki/Peregrine_falcon

https://en.wikipedia.org/wiki/Quraysh

https://vi.wikipedia.org/wiki/Muhammad

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s